Trả lời nhanh
BMI = cân nặng (kg) ÷ chiều cao² (m). Người cao 1,70 m nặng 65 kg có BMI 22,5. Theo chuẩn châu Á (thường dùng cho người Việt) BMI bình thường là 18,5–22,9, từ 23 là thừa cân, từ 25 là béo phì; theo chuẩn WHO quốc tế, bình thường là 18,5–24,9.
Chỉ số BMI là gì?
Chỉ số khối cơ thể (BMI) là cách nhanh nhất để biết cân nặng của người trưởng thành đang thiếu, vừa hay thừa so với chiều cao. Công cụ tính BMI, phân loại theo cả thang WHO quốc tế lẫn thang dành cho người châu Á, cho biết khoảng cân nặng bình thường với chiều cao của bạn và cần tăng hay giảm bao nhiêu kg để về ngưỡng đó. Nhập được cả cm/kg lẫn feet/inch/pound.

Cách tính BMI
- 1
Chọn đơn vị: cm và kg, hoặc feet, inch và pound.
- 2
Nhập chiều cao (đo khi đứng thẳng, không mang giày) và cân nặng (nên cân buổi sáng, trước khi ăn).
- 3
Chọn thang phân loại: “Người châu Á” (khuyên dùng cho người Việt) hoặc “WHO quốc tế”. Kết quả luôn hiện phân loại theo cả hai thang để bạn so sánh.
- 4
Đọc chỉ số BMI, vị trí trên thanh màu, khoảng cân nặng bình thường và số kg cần tăng / giảm. Bấm “Sao chép kết quả” nếu muốn lưu lại.
Phân loại BMI cho người trưởng thành
| Phân loại | Chuẩn WHO quốc tế | Chuẩn châu Á – Thái Bình Dương |
|---|---|---|
| Gầy độ III | < 16 | < 16 |
| Gầy độ II | 16 – 16,9 | 16 – 16,9 |
| Gầy độ I | 17 – 18,4 | 17 – 18,4 |
| Bình thường | 18,5 – 24,9 | 18,5 – 22,9 |
| Thừa cân | 25 – 29,9 (tiền béo phì) | 23 – 24,9 (có nguy cơ) |
| Béo phì độ I | 30 – 34,9 | 25 – 29,9 |
| Béo phì độ II | 35 – 39,9 | ≥ 30 |
| Béo phì độ III | ≥ 40 | Không tách riêng |
Nguồn: WHO (phân loại BMI người trưởng thành); WHO khu vực Tây Thái Bình Dương, IASO và IOTF (2000), “The Asia-Pacific perspective: Redefining obesity and its treatment”.
Cân nặng bình thường theo chiều cao (chuẩn châu Á, BMI 18,5–22,9)
| Chiều cao | Cân nặng bình thường | Bắt đầu thừa cân từ |
|---|---|---|
| 150 cm | 41,6 – 51,5 kg | 51,8 kg |
| 155 cm | 44,4 – 55,0 kg | 55,3 kg |
| 160 cm | 47,4 – 58,6 kg | 58,9 kg |
| 165 cm | 50,4 – 62,3 kg | 62,6 kg |
| 170 cm | 53,5 – 66,2 kg | 66,5 kg |
| 175 cm | 56,7 – 70,1 kg | 70,4 kg |
| 180 cm | 59,9 – 74,2 kg | 74,5 kg |
Ví dụ thực tế
Cùng một người, hai cách phân loại
Cao 165 cm, nặng 64 kg: BMI 23,5. Theo WHO quốc tế là bình thường, nhưng theo chuẩn châu Á đã ở mức thừa cân (có nguy cơ). Với người Việt nên theo chuẩn châu Á.
Cần giảm bao nhiêu cân
Cao 170 cm, nặng 78 kg: BMI 27,0, béo phì độ I theo chuẩn châu Á. Khoảng bình thường là 53,5–66,2 kg, tức cần giảm khoảng 11,8 kg để về ngưỡng.
Thiếu cân
Cao 160 cm, nặng 45 kg: BMI 17,6, gầy độ I. Cần tăng khoảng 2,4 kg để đạt BMI 18,5.
Đơn vị Mỹ
5 ft 10 in (177,8 cm), 170 lb (77,1 kg): BMI 24,4, bình thường theo WHO, thừa cân theo chuẩn châu Á.
Lỗi thường gặp
- Dùng BMI cho trẻ em, thiếu niên.
- Dưới 20 tuổi phải dùng BMI theo tuổi và giới (biểu đồ tăng trưởng của WHO), không dùng các ngưỡng người lớn trong công cụ này.
- Người tập tạ nhiều cơ bị xếp thừa cân.
- BMI không phân biệt cơ và mỡ. Người nhiều cơ có BMI cao mà vẫn khoẻ; hãy kết hợp vòng eo, tỷ lệ mỡ cơ thể.
- Nhập chiều cao bằng mét (1,7) ở ô cm.
- Ô chiều cao tính bằng cm, hãy nhập 170. Công cụ báo lỗi nếu chiều cao ngoài khoảng 50–250 cm.
- Mang thai vẫn tính BMI như thường.
- BMI khi mang thai không phản ánh đúng cơ thể; hãy dùng BMI trước khi có thai và theo dõi tăng cân với bác sĩ.
Vì sao người châu Á có ngưỡng BMI thấp hơn?
Ở cùng một BMI, người châu Á thường có tỷ lệ mỡ cơ thể cao hơn và nguy cơ đái tháo đường type 2, bệnh tim mạch xuất hiện sớm hơn người châu Âu. Vì vậy WHO khu vực Tây Thái Bình Dương cùng IASO và IOTF đề xuất ngưỡng thấp hơn: thừa cân từ 23, béo phì từ 25. Các chương trình dinh dưỡng ở Việt Nam thường dùng thang này.
Giới hạn của BMI
BMI là công cụ sàng lọc nhanh cho người trưởng thành, không phải chẩn đoán. Nó không cho biết mỡ nằm ở đâu: mỡ bụng nguy hiểm hơn mỡ ở hông, đùi. Nên đo thêm vòng eo; theo khuyến nghị cho người châu Á, vòng eo từ 90 cm ở nam và từ 80 cm ở nữ là tăng nguy cơ.
- Không áp dụng cho trẻ em dưới 20 tuổi, phụ nữ mang thai, cho con bú.
- Người cao tuổi, vận động viên nên được đánh giá thêm bằng chỉ số khác.
- Có bệnh lý, hãy hỏi bác sĩ trước khi tự giảm hay tăng cân.
Thuật ngữ
- BMI
- Body Mass Index, chỉ số khối cơ thể: cân nặng (kg) chia bình phương chiều cao (m).
- Thừa cân
- BMI trên mức bình thường nhưng chưa tới béo phì: 25–29,9 theo WHO, 23–24,9 theo chuẩn châu Á.
- Béo phì
- Tình trạng tích mỡ quá mức gây hại sức khoẻ: BMI từ 30 theo WHO, từ 25 theo chuẩn châu Á.
- Vòng eo
- Số đo quanh bụng ngang rốn, phản ánh mỡ nội tạng tốt hơn BMI.
Câu hỏi thường gặp
BMI bao nhiêu là chuẩn với người Việt?
Theo chuẩn châu Á, BMI 18,5–22,9 là bình thường; từ 23 là thừa cân và từ 25 là béo phì.
Công thức tính BMI là gì?
BMI = cân nặng (kg) ÷ (chiều cao (m) × chiều cao (m)). Ví dụ 65 ÷ (1,7 × 1,7) = 22,5.
Vì sao cùng BMI mà hai thang cho kết quả khác nhau?
Thang châu Á có ngưỡng thấp hơn vì người châu Á tăng nguy cơ bệnh chuyển hoá ở BMI thấp hơn. Công cụ hiện cả hai để bạn so sánh.
Trẻ em có dùng được không?
Không. Trẻ dưới 20 tuổi cần dùng BMI theo tuổi và giới trên biểu đồ tăng trưởng của WHO.
Khoảng cân nặng bình thường được tính thế nào?
Lấy ngưỡng BMI bình thường (18,5 đến 22,9 hoặc 24,9) nhân với bình phương chiều cao của bạn tính bằng mét.
Số đo của tôi có được lưu không?
Không. Phép tính chạy ngay trên trình duyệt, không gửi chiều cao hay cân nặng đi đâu.
Đánh giá và bình luận
Đang tải…